Articles

dùng làm tường và sàn chịu lực trong công trình xây dựng mới hoặc cải tạo các công trình công nghiệp và dân dụng phù hợp theo TCVN 7575 1÷3 : 2007

- Tấm 3D sau khi phủ bêtông trở thành tấm bêtông lưới thép vỏ mỏng 2 lớp, cấu tạo này có khả năng cách âm và cách nhiệt tốt. Nhờ lõi xốp EPS ở giữa tấm đóng vai trò ván khuôn, việc thi công tạo vỏ mỏng này rất thuận lợi và dễ dàng. Lõi xốp EPS làm giảm lượng bêtông ở miền trung hòa nhờ đó giảm tải trọng của cấu kiện. Hơn nữa, xốp EPS có chỉ số giảm truyền nhiệt và âm cao nên giúp tăng cường thêm tính cách âm và cách nhiệt cho tấm 3D.

- Tấm 3D cổ điển có cấu tạo thanh giằng xiên là các đoạn thép ngắn, trong quy trình sản xuất tấm 3D này phải cần đến xốp EPS cứng (tỉ trọng cao) đóng vai trò như các khuôn để giữ các thanh này cố định từ đó mới hàn các thanh này vào lưới thép được. Mặt khác, như sơ đồ phân bố lực trình bày ở phần trên, tấm 3D loại này có khả năng chống moment xoắn kém, do đó cần lõi xốp cứng để nhờ lực ma sát của xốp với thanh xiên làm giảm moment của bản thân tấm.

- Thường chiều dài tối đa của tấm xốp EPS là 4000mm nên chiều dài tối đa của tấm 3D loại này cũng bị giới hạn bằng chiều dài tấm xốp là 4000mm. Trường hợp cần có tấm dài hơn buộc phải nối 2 tấm với nhau bằng lưới nối

- Trong thực tế, vật liệu có cấu tạo nhiều lớp trong đó có khoang không khí có đặc tính cách âm cách nhiệt tốt. Đối với tấm 3D, trường hợp không có lõi xốp ở giữa, thì đó là khoang không khí, nhưng do nằm giữa lớp bêtông đặc chắc và lớp vữa bảo vệ, tương đối dày, khoang này thực sự là môi trường yếm khí, động vật như chuột, côn trùng cũng khó có thể tồn tại trong môi trường này.

- Tấm V-3D, với quan điểm này và phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia TCVN 7575: 2007 đã xác định tỉ trọng của xốp EPS chỉ cần từ 10kg/m3 trở lên là đủ để xốp EPS không thấm nước, đảm bảo độ cứng làm ván khuôn định hình bêtông trong tấm 3D. Bản thân khung lưới thép với hệ thanh giằng SIN bố trí zigzag của tấm V-3D có khả năng kháng moment xoắn rất tốt, vì vậy có thể sản xuất các tấm V-3D không có xốp EPS để làm bản móng trong công trình.

- Lõi xốp EPS ngoài công dụng làm ván khuôn, tăng tính cách âm, cách nhiệt, lõi xốp của Tấm 3D quyết định chiều dày của lớp bêtông chịu nén và khoảng cách giữa 2 lớp bêtông vỏ mỏng. Trường hợp khoảng cách này quá xa, hệ thanh giằng xiên không liên tục không bảo đảm được tính chất hai lớp vỏ mỏng cùng công tác. Một số loại tấm 3D cổ điển dùng chiều dày lõi xốp để xác định chiều dày tấm do khoảng cách giữa lớp lưới và lõi xốp là không đổi, thường bằng 1cm. Như vậy chiều dày bêtông của các chủng loại tấm 3D cổ điển cũng không đổi, khả năng chịu tải của các tấm có chiều dày khác nhau cũng hầu như là giống nhau.

- Đối với tấm làm sàn khoảng cách 1cm như vậy không bảo đảm lớp lưới thép giữ được bêtông dưới đáy sàn.

- Tấm V-3D xác định lượng bêtông trong tấm bằng chiều dày của lõi xốp theo hướng tăng dần, tấm có khoảng cách giữa hai lớp lưới càng xa thì chiều dày lõi xốp cũng lớn hơn và chiều dày lớp bêtông cũng lớn hơn. Từ đó khả năng chịu tải của tấm cũng khác nhau. Các module tấm bêtông V-3D được xác định theo bảng quy cách gồm: chiều dày các tấm V-3D, chiều dày lõi xốp, chiều dày lớp bêtông. Đối với tấm chịu nén chiều dày lõi xốp có thể giảm xuống để tăng lượng bêtông làm tăng cường độ nén và tải trọng ngang của tấm. Đối với tấm làm sàn, tấm V-3D có khoảng cách hai lớp lưới là 125mm có thể vượt nhịp dài 6m.

- Đối với loại tấm 3D của Ý, lõi xốp có cấu tạo gợn sóng, hoặc gờ sóng vuông để chặn lõi xốp xê dịch qua lại 2 lớp lưới do hệ thanh giằng xiên là các đoạn sắt ngắn hàn vuông góc với lưới. Các thanh ngang hoặc dọc nằm tựa vào lõi xốp, như vậy cấu kiện sắt trong tấm không được bêtông bao bọc, hoặc đối với thanh dọc do cấu tạo lõi xốp gợn sóng nên bêtông chỉ bọc được thanh dọc còn lớp bêtông xung quanh bị xốp gợn sóng ngăn cản làm cho lớp bêtông không đồng đều trong cấu kiện tấm 3D và lớp bêtông cũng có dạng gợn `sóng theo lõi xốp. Điều này hạn chế khả năng chịu lực của bản thân tấm do lớp bêtông chịu nén không còn dạng vỏ mỏng đồng đều bao phủ xung quanh cốt thép dọc mà có dạng gợn sóng chỗ dày chỗ mỏng.

Cấu kiện bêtông cốt thép đúc sẵn có cấu tạo 2 lớp, rỗng ở giữa để cách âm, cách nhiệt và giảm tải

- Kích thước của tấm 3D gồm có chiều rộng thường có kích thước 1000 – 1200mm, chiều dài có giới hạn và chiều dày của tấm được xác định dựa trên khoảng cách giữa hai lớp lưới, cùng với việc xác định chiều dày của tấm 3D là chiều dày xác định của lõi xốp EPS cũng như khoảng cách giữa

- Chiều ngang của Tấm 3D có kích thước 1200 không thuận tiện cho việc sắp xếp vào phương tiện chuyên chở chuyên dụng như Container (Xem sơ đồ sắp xếp trang sau)

- Kích thước của tấm 3D cổ điển với hệ thanh xiên là từng đoạn thép ngắn có chiều rộng là 1200mm, chiều dày được xác định bằng chiều dày của lõi xốp EPS, chiều dài sản xuất của tấm 3D cổ điển bị hạn chế do quy trình sản xuất bị giới hạn, như là 3000, 4000 và 6000mm, Hay như công nghệ của Hàn Quốc/Trung Quốc là 2400mm. Giới hạn kích thước này gây khó khăn khi lắp dựng tấm 3D trong công trình và tăng chi phí lưới nối cũng như thời gian xử lý buộc nối nếu cần tấm dài và cắt bỏ khi cần tấm ngắn hơn quy cách sản xuất.

Tấm V-3D có kích thước như sau:

- Chiều ngang là 1000mm, cộng với 2 cạnh Âm – Dương của tấm, tổng chiều ngang là 1160mm. Kích thước này phù hợp với vận chuyển bằng container (Kích thước lọt lòng trong container là 2300mm). Khi xếp tấm V-3D vào container hay xe tải lớn,

- Hai tấm V-3D được đặt cạnh nhau theo chiều dài, cạnh Âm – Dương của hai tấm V-3D được xếp chồng lên nhau, tạo thành tổng chiều ngang khoảng 2240mm.

- Chiều dày của tấm được xác định bằng khoảng cách của 2 lớp lưới, lõi xốp có thể thay đổi để điều chỉnh lượng bêtông theo thiết kế để bảo đảm cường độ nén của cấu kiện.

- Chiều dài của tấm được sản xuất theo yêu cầu và không bị giới hạn. Việc nối các tấm V-3D không cần thêm lớp lưới nối gây tốn thêm chi phí và thời gian nhờ cạnh lưới Âm – Dương có sẵn trên mỗi Tấm V-3D.